Một lần, tôi được vài người bạn Do Thái mời tham dự lễ Vượt Qua cùng họ. Trong
gia đình Do Thái, đây là một dịp trọng đại, hạnh phúc vì cả nhà sum họp. Buổi lễ
có lời cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, hát thánh ca và tiếng cười vui vẻ. https://youtu.be/_DuTd0GlTmI
Tại sao
người Do Thái cử hành lễ Vượt Qua? Bởi vì, như một tác giả Do Thái đã viết: “Đó
là đêm mà mỗi người Do Thái xem mình như thể được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai
Cập và bắt đầu hành trình đến Sinai, nơi Israel lãnh nhận Thập Giới.”
Tối hôm
đó, tôi rất vui. Tôi nghĩ đến việc Chúa Giêsu sai Phêrô và Gioan chuẩn bị bữa
Vượt Qua, rồi cùng 12 môn đệ cử hành. Người nói: “Thầy những khát khao mong mỏi
ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh
em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được
nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 22, 15-16).
Trong bữa ăn với bạn bè Do
Thái, tôi đã dùng những món ăn mà Chúa Giêsu từng ăn trong Bữa Tiệc Ly: bánh
không men, rau đắng để nhớ lại kiếp nô lệ Ai Cập, một quả trứng biểu tượng cho
sự sống mới từ cái chết. Theo truyền thống, chúng tôi uống bốn chén rượu nho và
hát những thánh vịnh mà Chúa Giêsu cũng đã hát. Tôi lắng nghe trẻ nhỏ hỏi cha
mẹ: “Tại sao tối nay lại đặc biệt?” và nghe câu trả lời: “Đây là bổn phận của
chúng ta kể lại câu chuyện kỳ diệu: ra khỏi Ai Cập, thoát ách nô lệ, vượt Biển
Đỏ, và lang thang trong sa mạc.”
Tôi tự hỏi: vào lúc nào Chúa Giêsu cầm lấy
bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra? Nhưng ở đây có sự khác biệt: Người nói “Đây
là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.”
Và khi nâng chén rượu cuối bữa, Người cũng nói: “Chén này là giao ước mới, lập
bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22, 19-20).
Hành động của Chúa Giêsu
với bánh và rượu đã thay đổi tất cả. Từ nay, biến cố trọng đại chúng ta cử hành
không chỉ là cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập, mà là cuộc thương khó, cái chết và sự
phục sinh của Chúa Giêsu – cuộc giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Mỗi
Thánh Lễ là một cuộc tham dự vào chính biến cố ấy, với tâm tình tạ ơn và yêu
mến. Một người phụ nữ Do Thái trong buổi lễ hôm đó từng bị giam trong trại tập
trung Belsen. Nhìn bà, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu trong cơn hấp hối: sợ hãi, cô
đơn, đau khổ đến toát mồ hôi máu. Bà đã chịu đựng những khổ đau ấy nhiều năm, và
nay được sống tự do, hưởng tình yêu gia đình và bạn bè.
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh,
chúng ta tưởng nhớ việc Chúa Giêsu cầm bánh và rượu, biến đổi thành Mình và Máu
Ngài. Sự thật này đòi hỏi chúng ta phải khiêm tốn, vì đó là quà tặng vô giá.
Chính vì thế, chúng ta quỳ gối tôn thờ Chúa trong phép Thánh Thể, ý thức rằng
mình đang ở gần Ngài trong nỗi đau ở vườn Cây Dầu, và gần Ngài như Maria
Mađalêna trong ngày Phục Sinh. Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là lúc chúng ta làm
mới lại đức tin, nhận ra rằng mỗi Thánh Lễ là sự kết hợp của Thứ Sáu Tuần Thánh
và Chúa Nhật Phục Sinh. Hiến tế và bàn tiệc Thánh Thể chính là trung tâm đời
sống Giáo Hội. Chúa Giêsu còn rửa chân cho các môn đệ, biểu lộ sự nhã nhặn và
yêu thương của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa đã tỏ ra sự khiêm nhường ấy, thì chúng
ta cũng được mời gọi đáp lại bằng lòng yêu mến và phục vụ, đặc biệt với những
người nghèo khổ.
Cuối cùng, nghi thức Thứ Năm Tuần Thánh có cuộc rước Thánh Thể
đến bàn thờ phụ, nơi mỗi người có thể cầu nguyện riêng trong thinh lặng. Đây là
sự nối kết quan trọng: chúng ta không thể thờ phượng cách sâu xa nếu không biết
cầu nguyện riêng, và không thể yêu thương tha nhân thật sự nếu không có mối liên
hệ mật thiết với Chúa Giêsu.
Cầu nguyện trong thinh lặng không dễ, như Phêrô,
Giacôbê và Gioan đã từng ngủ quên. Nhưng khi nhớ đến cơn hấp hối của Chúa, chúng
ta hiểu rằng Ngài cần sự hiện diện của chúng ta. Ở lại với Chúa trong giây phút
thinh lặng, nhu cầu của Ngài gặp nhu cầu của chúng ta, và ước muốn của Ngài trở
thành ước muốn của chúng ta. Trong sự thinh lặng ấy, chúng ta cảm nhận sự hiện
diện của Chúa Giêsu trong đời sống mình và ý nghĩa sâu xa của điều đó
---Trích từ Mầu Nhiệm Thập Giá - Basil Hume----




0 comments:
Post a Comment