Tuesday, August 11, 2026

GIÁO HỘI SỐNG ĐỘNG GIỮA LÒNG VIỆT NAM VÀ LỜI MỜI GỌI CHO THẾ HỆ TRẺ

   Tôi xin thú thật rằng mình có một nỗi sợ rất lớn khi phải đi máy bay. Khi khởi hành từ Rôma sang Đài Loan, vượt qua chặng đường hơn mười ngàn cây số, tôi đã phải đối diện không chỉ với thử thách thể lý mà còn cả tinh thần. Tôi ra đi vì Chúa và với Chúa, nhưng nỗi sợ vẫn còn đó.

   Một ngày kia, tôi nhận được lời mời của một chị em Việt Nam đến đất nước chị để tham gia một số hoạt động ơn gọi. Phản ứng đầu tiên của tôi là: “Lại một chuyến đi nữa sao?”. Một nơi chốn mới, một ngôn ngữ khác, một khí hậu khác, và trên hết là nỗi sợ bay.

   Thế nhưng, một lần nữa, vì Chúa và với Chúa, tôi đã lên đường. Lần này thì khác: lần đầu tiên tôi trải qua chuyến đi mà không còn sợ hãi, với một sự bình an chưa từng có. Đến nỗi tôi có thể thốt lên: “Thật sự, đi lại là một điều rất đẹp”. Đó chính là câu đầu tiên tôi chia sẻ với các chị em tại sân bay. Ngày hôm ấy, Chúa đã ban cho tôi một hồng ân lớn: giúp tôi khám phá vẻ đẹp của hành trình. Trong lòng tôi đã cảm nhận rằng thời gian ở đất nước tươi đẹp này sẽ thật tuyệt vời.

   Ngày hôm sau, tôi đã có một bất ngờ đầu tiên: ngồi sau xe gắn máy lúc bốn giờ sáng để đi tham dự Thánh lễ. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn nữa là nhìn thấy ngôi nhà thờ đầy ắp người – nam nữ, già trẻ – tham dự sốt sắng ngay cả trong ngày thường.

   Trong lòng tôi chợt vang lên một ý nghĩ: “Tội nghiệp nước Ý”. Ở giáo xứ của tôi, trong các ngày thường, chỉ có khoảng mười người tham dự Thánh lễ, hầu hết là người cao tuổi.

   Đến Chúa nhật, chúng tôi cùng các chị em đến một giáo xứ khác. Lại thêm một điều kỳ diệu. Tôi khám phá rằng trong buổi sáng có đến tám Thánh lễ được cử hành, và mỗi Thánh lễ đều có hơn tám trăm người tham dự. Nhưng những ngạc nhiên vẫn chưa dừng lại.

   Trong Thánh lễ dành cho thiếu nhi và giới trẻ, tôi đã thấy hàng trăm em mặc đồng phục, quàng khăn đủ màu, bước vào một cách trật tự và ngồi xuống với sự nghiêm trang. Sự thinh lặng không phải do ép buộc, nhưng tự nhiên, như một phần trong cách sống đức tin của các em. Các giáo lý viên trao cho các em nhiều nhiệm vụ và các em đảm nhận với niềm vui và trách nhiệm.

   Sau Thánh lễ, khi người lớn ra về, các em trẻ ở lại để tham gia những sinh hoạt chúng tôi đã chuẩn bị: hát, múa, xem một đoạn video ngắn và nghe chúng tôi giới thiệu về sứ mạng trong Giáo Hội cũng như quê hương của mình.

   Chúng tôi còn chuẩn bị một số câu hỏi để các em tham gia. Những cánh tay giơ lên trả lời nhiều đến mức quà nhỏ mang theo không đủ cho tất cả.

chuyến thăm các em Thiếu nhi Gx Thủ đức
   Kết thúc buổi gặp gỡ, tôi thấy mình được vây quanh bởi một nhóm đông các em thiếu nhi và giới trẻ. Các em có rất nhiều câu hỏi, cố gắng nói tiếng Anh để dễ giao tiếp với tôi. Tôi đã trả lời được cho nhiều em; những em chưa kịp hỏi thì xin chụp một tấm hình chung để lưu giữ kỷ niệm mà các em coi là đặc biệt.

   Nhìn khu vườn đầy hoa là những thiếu nhi và giới trẻ khao khát tìm hiểu và đào sâu đức tin, trong lòng tôi chỉ dâng lên một lời "tạ ơn"

   Tạ ơn Chúa, vì Ngài vẫn tiếp tục kêu gọi nhiều bạn trẻ bước theo Ngài. Xin cho tất cả các em được cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa trong hành trình đời mình và biết chọn Ngài trong những quyết định quan trọng nhất.

   Được các em vây quanh khiến tôi nhớ lại tuổi trẻ của mình, khi cha xứ và ngôi nhà thờ là trung tâm đời sống của làng. Đó là nơi mọi người gặp gỡ, quen biết và giúp đỡ nhau. Đức tin là sức mạnh mang lại ý nghĩa cho tất cả, và tất cả đều quy hướng về Chúa.

   Chúng tôi nghèo, nhưng hạnh phúc. Cuộc sống trôi đi theo nhịp tiếng chuông nhà thờ, báo hiệu giờ khắc trong ngày, niềm vui của những sinh ra và nỗi buồn của những mất mát.

   Kinh nghiệm này thật sâu xa và soi sáng cho tôi. Nó đã làm bừng lên đức tin nơi tôi vào Chúa của lịch sử, Đấng vẫn tiếp tục đồng hành với chúng ta, luôn tôn trọng tự do của ta. Nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra cho tôi nhiều câu hỏi.

   Hôm nay, tại Việt Nam, tôi thấy một Giáo Hội sống động và một dân tộc sẵn sàng đáp lại lời mời gọi tin vào Chúa Kitô. Tuy nhiên, tôi tự hỏi: liệu đức tin này có đứng vững khi đời sống kinh tế phát triển, khi chủ nghĩa tiêu thụ và tiện nghi và kỹ thuật ngày càng len vào cuộc sống? Khi mọi sự dường như có thể thỏa mãn nhu cầu con người, liệu lời cầu nguyện và sự hiệp thông với Chúa Kitô còn giữ được vị trí trung tâm?

   Lời cầu nguyện của tôi xin dành cho dân tộc hiếu khách này, giàu đức tin và chứng tá thánh thiện. Tôi khẩn xin Chúa soi sáng cho các mục tử của Giáo Hội, để họ biết đồng hành cùng các Kitô hữu hôm nay, giúp họ đào sâu hơn nữa hồng ân Lời Chúa và gìn giữ đức tin cho thế hệ trẻ, chuẩn bị họ đối diện với những thách đố của ngày mai.


 (Tâm tình chia sẻ cảm nghiệm khó quên của Sr. Giulia dòng Nữ Tử Thánh Phaolô chuyến thăm Việt Nam  tháng 12 năm 2025)
Share:

Wednesday, June 10, 2026

TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NHÀ TRUYỀN GIÁO - Chuyện kể từ sơ Vương Châu Lệ, FSP

 Nguồn ơn gọi

   Năm 3 tuổi, có một nhà truyền giáo hỏi tôi: “Khi lớn lên, con muốn làm gì?” Tôi vô thức trả lời: “Con muốn làm nhà truyền giáo”, rồi chỉ vào tấm áp phích trên tường nhà thờ và nói: “Con muốn đến nơi có những em bé mắt nhỏ, da vàng.” Không ngờ câu trả lời lúc ấy lại ảnh hưởng đến cả cuộc đời tôi sau này.

    Hình ảnh những em bé năm châu trên tấm áp phích in sâu vào trí nhớ tôi. Tôi chạy về nhà nói với mẹ: “Khi lớn lên, con sẽ đi thật xa để các em bé phương Đông cũng được biết đến niềm vui có Chúa Giêsu.” Khi ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu về địa lý, nên không nhớ mẹ đã đáp lại thế nào. Nhưng sau này, mẹ nhiều lần kể lại câu chuyện ấy và nhấn mạnh: trở thành nhà truyền giáo là một con đường dài, phải ăn nhiều thì mới có sức đi xa. Nghe lời mẹ, tôi cố gắng ăn, nhất là những món mình không thích, coi đó như một hy sinh dâng cho Chúa Giêsu nhỏ bé, để ánh sáng của Chúa được đem đến cho những em bé mắt nhỏ, da vàng.

Ảnh hưởng của truyền thông

   Dần dần, lòng tôi càng khao khát được biết thế giới mới và con người, đồng thời muốn hiểu sâu hơn đức tin mà cha mẹ đã truyền lại. Từ 6 tuổi, tôi đi học giáo lý mỗi ngày, nhưng vẫn mong được học thêm. Trong thư viện giáo xứ, tôi tìm thấy nhiều sách về tiểu sử các thánh, sách linh đạo, chú giải Kinh Thánh… Nhờ đó, tôi biết đến những gương anh hùng của các nhà truyền giáo và đức tin của tôi ngày càng vững chắc. Tôi nhận ra Chúa đã chuẩn bị cho tôi con đường: trở thành một nữ tu truyền giáo của Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô.

   Những sách, phim, nhạc bổ ích ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi trẻ của tôi và quyết định hướng đi sau này. Tôi hiểu rằng một cuốn sách hay, một bộ phim lành mạnh có thể tác động đến lương tâm, nuôi dưỡng tình cảm, đem lại lý tưởng sống cho giới trẻ, và giúp cha mẹ truyền đạt giá trị đúng đắn cho con cái. Đồng thời, tôi cũng nhận ra những ảnh hưởng tiêu cực mà truyền thông có thể mang lại.

Thân xác tôi chỉ thuộc về Chúa Giêsu

   Nhảy múa là thú vui tối cuối tuần, cùng bạn bè nghe nhạc và học điệu nhảy mới. Nhưng khi được bạn nhảy ôm vào lòng, tôi chợt nhận ra những ý nghĩ phát sinh từ sự tiếp xúc ấy không nằm trong sự kiểm soát của tôi. Trong sâu thẳm, tôi thưa với Chúa Giêsu: “Thân xác và tất cả của con thuộc về Ngài. Con chỉ muốn nhảy múa trước mặt Ngài, theo điệu nhạc Ngài dành cho con, và bước đi trên con đường Ngài chỉ định.”

   Ngày hôm đó là 6/1/1963, tôi mới 15 tuổi. Để xác nhận cảm nghiệm ấy, tôi vào nhà thờ, mở Kinh Thánh và thấy câu: “Đẹp thay bước chân người loan báo Tin Mừng” (Rm 10,15) và “Hy lễ và lễ vật Ngài không ưa, nhưng Ngài đã chuẩn bị cho con một thân xác… Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,5-7).

   Chỉ có Chúa, bằng Lời hằng sống, mới chứng thực ý định của Ngài dành cho tôi. Thân xác tôi là quà tặng của Chúa, nên từ nay bước chân tôi sẽ theo nhịp điệu của Ngài, đem Tin Mừng đến cho mọi người.

Đời sống chiêm niệm hay truyền giáo?

   Nhật ký và đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu lôi cuốn tôi. Tôi nghĩ rằng vào đan viện để cầu nguyện cho nhân loại là cách tốt nhất để thuộc trọn về Chúa. Nhưng dần dần tôi hiểu Chúa muốn tôi vào một dòng truyền giáo, dùng sách, phim, âm nhạc để loan báo Tin Mừng. Cha mẹ không phản đối, luôn đồng hành bằng lời cầu nguyện và tình yêu, giúp tôi trở thành nữ tu của Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô.

   Ngày 20/3/1967, tại Alba (miền Bắc Ý), tôi gia nhập dòng. Hôm đó là Thứ Hai Tuần Thánh, cha mẹ cùng tôi dâng mình trước ảnh Đức Mẹ Nữ Vương Các Tông Đồ. Tôi có những ký ức đẹp về thời gian huấn luyện, được chị em nâng đỡ trong bầu khí gia đình, giúp tôi yêu Chúa và nhân loại hơn. Tại nhà mẹ, ngọn lửa truyền giáo trong tôi được thắp sáng lại, đặc biệt là tình yêu dành cho người Hoa. Tôi mời các tập sinh cùng cầu nguyện cho dân tộc Trung Hoa được đón nhận Tin Mừng.

Món quà sinh nhật đặc biệt.

   Ngày 1/10/1976, bề trên mời tôi đi truyền giáo tại Đài Loan Tôi nhận ra ngay đó là ý Chúa và đồng ý. Ngày ấy lại trùng với lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, bổn mạng các nhà truyền giáo. Hơn nữa, ngày tôi rời Roma đi Đài Loan cũng chính là ngày sinh nhật của tôi. Trong Thánh lễ hôm ấy, bài đọc nhắc lại: “Đẹp thay bước chân người loan báo Tin Mừng” (Rm 10,9-19). Tôi cảm thấy như Chúa đã đặt một quả anh đào đỏ thắm trên chiếc bánh sinh nhật của tôi, để đánh dấu sứ mạng loan báo Tin Mừng tại Đài Loan. Đó là lần đầu tôi đi máy bay, lần đầu rời quê hương và người thân. Nhưng tôi xác tín: nơi nào có Nhà Tạm, nơi đó tôi sẽ gặp Chúa Giêsu và một cộng đoàn cùng chung lý tưởng. Sơ Bề Trên Tổng quyền đã chờ tôi ở sân bay, trao cho tôi tràng chuỗi của sơ và nói: “Đức Mẹ Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ sẽ luôn đồng hành với con, mọi sự sẽ trở nên dễ dàng.”

Đài Loan – Quê hương mới của tôi

   Khi đến Đài Bắc đã là nửa đêm. Đêm đầu tiên tôi không ngủ được vì muỗi vo ve, gió thổi mạnh khiến tôi sợ hãi. Trong lòng tôi dấy lên nhiều cảm xúc: Tôi thật sự đã đến Đài Loan sao? Tôi có thể sống đời truyền giáo không? Tiếng Hoa nghe như một bản nhạc, nhưng liệu tôi có học được không? Bao giờ tôi mới đọc được chữ Hán? Tôi nắm chặt tràng chuỗi, đọc Kinh Kính Mừng bằng tiếng mẹ đẻ, vừa nhớ quê hương vừa cảm nhận nơi này sẽ là quê hương mới của tôi.

   Thế là tôi bắt đầu cuộc phiêu lưu truyền giáo, vừa sợ hãi vừa hy vọng, nhưng xác tín rằng: Chúa Giêsu luôn ở bên tôi, không gì có thể tách tôi khỏi tình yêu của Ngài.

34 năm tại Đài Loan

   Tôi đã sống ở Đài Loan 34 năm! Làm sao tóm gọn được lịch sử phong phú ấy? Tôi nhớ lời của Cha sáng lập dòng, Chân phước Giacôbê Alberione: “Khi muốn kể lại những gì hữu ích cho gia đình Phaolô, hãy kể hai loại lịch sử: trước hết là lịch sử lòng thương xót của Chúa, để hát lên: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an cho người Chúa thương.",  Thứ hai là lịch sử đáng hổ thẹn, khi không đáp trả tình yêu vô biên của Chúa, để hát lên bài ca sám hối…” (AD1).

    Tôi xác tín rằng ý muốn trẻ thơ “Con muốn làm nhà truyền giáo” chính là khởi đầu lịch sử cứu độ của Chúa trong đời tôi. Từ đó, Ngài đã dệt lịch sử của tôi vào lịch sử của Ngài, biến nó thành lịch sử cứu độ chung. Tôi học cách đón nhận quà tặng của Chúa với lòng biết ơn, cùng Ngài bước đi để kế hoạch của Ngài được hoàn tất nơi tôi. Con đường cùng Chúa thật đẹp, dù tôi chưa đi khắp Đài Loan, nhưng tôi cảm nhận mình thuộc về cộng đoàn tông đồ, cùng nhau sống cho mục tiêu chung: loan báo Tin Mừng – vinh quang của Thiên Chúa và lợi ích của nhân loại.

Chuyển ngữ từ Italiano - Hoa - Việt, fsp


Share:

Tuesday, May 26, 2026

Mời Liên Hệ Để Tìm Hiểu Ơn Gọi


 

Share:

Friday, May 22, 2026

MỪNG KÍNH ĐỨC TRINH NỮ MARIA - NỮ VƯƠNG CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ - Thứ Bảy sau lễ Thăng Thiên

    Lễ trọng tại Đền Thánh – Vương cung thánh đường Regina degli Apostoli ở Roma của Gia Đình Phaolô.

    Thánh lễ kính Đức Trinh Nữ Maria Nữ Vương các Thánh Tông Đồ lần đầu tiên được chuẩn nhận bởi Thánh Bộ Nghi lễ ngày 17 tháng 3 năm 1890, theo đề nghị của “Hội Truyền giáo” (Pallottini) ở Masio (Alessandria), và được mở rộng cho toàn thể Hội dòng vào năm 1915.  

   Thánh lễ này được cha Giacomo Alberione, đấng sáng lập Gia đình Phaolô, đón nhận vào khoảng năm 1923 và cử hành vào Thứ Bảy sau lễ Thăng Thiên . Ngày 10 tháng 3 năm 1943, cha Alberione xin Tòa Thánh cho phép Hội dòng Thánh Phaolô được mừng lễ với cấp bậc hạng nhất; lời thỉnh cầu được chấp thuận ngày 26 tháng 3 năm 1943. Bản văn được duyệt lại và sắp xếp theo quy định mới của Thánh lễ sau Công đồng năm 1973; bản dịch tiếng Ý được chuẩn nhận ngày 4 tháng 4 năm 1983 theo lời thỉnh cầu của tất cả các Bề trên tổng quyền trong Gia đình Phaolô.  

    Các bản văn Kinh Thánh và lời nguyện trong Thánh lễ kính Đức Maria Nữ Vương các Tông Đồ, với những đề nghị thay thế, nhằm làm nổi bật – theo tư tưởng của cha Alberione – toàn bộ “sứ vụ tông đồ của Đức Maria”: từ biến cố Truyền tin cho đến lễ Thăng Thiên và trong đời sống của Hội Thánh. Điểm này khác với những nhấn mạnh ban đầu của lòng sùng kính Đức Maria Nữ Vương các Thánh Tông Đồ vào thế kỷ XIX, khi người ta chủ yếu chiêm ngắm Đức Maria trong Nhà Tiệc Ly giữa các Tông Đồ.  

   Cha Alberione, vốn chịu ảnh hưởng từ giáo huấn của Đức Lêô XIII trong Thông điệp Adiutricem Populi (1895), đã hướng dẫn con cái mình ngay từ năm 1919 tôn kính Đức Maria dưới tước hiệu Nữ Vương các Thánh Tông Đồ, nhưng luôn nhấn mạnh phải nhìn toàn diện “sứ vụ tông đồ” của Mẹ, Đấng trao ban Đức Giêsu – Ngôi Lời nhập thể: “Lời ‘Xin vâng’ trong biến cố Truyền tin là hành động đầu tiên trong sứ vụ tông đồ của Đức Maria. Mẹ đưa Đấng Cứu Thế vào trần gian. Thật là một sứ vụ tông đồ vĩ đại! Từ đó về sau, đời sống của Đức Maria có thể được gọi là "Những hành động tông đồ của Đức MaMar" (x. RdA 88). Cái nhìn toàn diện này được diễn tả rõ ràng trong việc cha Alberione cho họa sĩ G.B. Conti vẽ bức thánh tượng vào năm 1935 (x. CISP 37-38).  

    Có một sự trùng hợp lớn trong định hướng của Đấng sáng lập với Công đồng Vaticanô II và với nền thần học về Đức Maria trong Hiến chế Lumen Gentium, đặc biệt ở các số 64 và 65, nơi Đức Maria được trình bày như “mẫu gương của Hội Thánh, Đấng sinh ra Đức Kitô trong tâm hồn con người bằng Lời và các bí tích”; cũng như trong giáo huấn của Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II (x. Marialis Cultus và Redemptoris Mater). Sau cùng, Đức Maria được cha Alberione đề nghị như là Đấng Trung Gian ân sủng: Mẹ cầu bầu, hướng dẫn, nâng đỡ và an ủi các Tông Đồ của hôm nay và mọi thời đại.  

    Cha Alberione đã đặt tên cho một trong bốn Hội dòng nữ là: Các Nữ tu Đức Maria Nữ Vương các Thánh Tông Đồ (Apostoline), chuyên về sứ vụ ơn gọi – “công việc của mọi công việc”, như cha thường nói.  

    Thánh lễ kính Đức Maria Nữ Vương các Tông Đồ có thể được cử hành như Thánh lễ tùy chọn trong các ngày thường của mùa thường niên và trong những trường hợp đặc biệt, khi được phép theo lịch phụng vụ chung; có thể sử dụng các bản văn trong Phụ lục.

 

Note: Lễ trọng đối với Hội Dòng Đức Maria Nữ Vương các Thánh Tông Đồ - sứ mạng cầu nguyện cho ơn gọi, một trong 10 tu hội mà cha Alberione sáng lập.

Bài viết Italia  - chuyển ngữ   - Việt

 

Share:

Thursday, April 23, 2026

ƠN GỌI : QUÀ TẶNG VÀ HÀNH TRÌNH

LỜI MỜI GỌI CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV DÀNH CHO BẠN TRẺ nhân ngày “Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 63”  26-04-2026

   Đọc sứ điệp của Đức Thánh Cha, tôi cảm nhận được một lời mời gọi rất mạnh mẽ nhưng cũng đầy dịu dàng: hãy khám phá vẻ đẹp của đờisống Kitô hữu qua việc lắng nghe tiếng Chúa và tín thác vào Người. Ngài nhắcrằng ơn gọi không phải là một khuôn mẫu áp đặt, nhưng là một hồng ân tình yêu được gieo vào sâu thẳm tâm hồn mỗi người. 

   Điều đánh động tôi nhất là khi ĐứcThánh Cha nói: “Đừng đi ra ngoài chính mình, hãy trở về với bản thân, Chân Lý cưngụ trong con người nội tâm”. Lời này như một lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không ở đâu xa, nhưng ở ngay trong chính trái tim tôi. Nếu tôi biết dừng lại, cầu nguyện, và sống thinh lặng, tôi sẽ nhận ra tiếng gọi của Người. 

   Đức Thánh Cha cũng khích lệ giới trẻ chúng tôi hãy can đảm tín thác, như Thánh Giuse đã tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa ngay cả khi mọi sự dường như mờ tối. Điều này giúp tôi hiểu rằng hành trình ơn gọi không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chính trong thử thách, niềm tin và sự phó thác mới làm cho ơn gọi trưởng thành. 

   Tôi cảm thấy lời mời gọi này không chỉ dành cho những ai bước vào đời sống tu trì, mà cho tất cả các bạn trẻ: trong hôn nhân, trong phục vụ, trong đời sống giữa xã hội. Mỗi người đều có một con đường riêng, nhưng tất cả đều được mời gọi sống trọn vẹn trong tình yêu và vẻ đẹp của Đức Kitô.

   Với tôi, lời mời gọi củaĐức Thánh Cha là một lời khích lệ: hãy nuôi dưỡng đời sống nội tâm bằng cầu nguyện, hãy tín thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh, và hãy để cho ơ n gọi của mình – dù là gì – trở thành nguồn hạnh phúc cho bản thân và hoa trái cho Giáo Hội.

Suy ngẫm - fsp - từ bài chia sẻ :
"Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi"

Share:

Friday, April 3, 2026

THỨ SÁU TUẦN THÁNH “Lay Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm"

“Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 32-34)    https://youtu.be/eGgsbvBtoVI


Suy niệm

“Họ không biết việc họ làm.” Họ đã đánh đòn Chúa Giêsu, đã làm thân xác Ngài tan nát. Họ đã đặt mũ gai lên đầu Ngài, đã sỉ nhục, đã chế nhạo Ngài. Bây giờ họ còn đóng đinh Ngài vào thập giá. “Họ không biết việc họ làm.” Một cách chắc chắn, nhân tính của họ ngăn cản họ giáng xuống người khác những gì họ không muốn chịu. Nhưng họ đã xử với Chúa Giêsu một cách vô nhân đạo. “Chúng ta không biết việc chúng ta làm.” Lời này có ý nghĩa sâu xa. Tiếng nói nhân loại của Chúa Giêsu trong cơn thống khổ cho thấy một sự quảng đại vô biên của Thiên Chúa đến mức gây kinh ngạc, và cũng rất an ủi. Nó như thể Chúa Giêsu muốn đi xa hơn điều chúng ta có thể viện dẫn để bào chữa. Ngài sẽ tìm thấy bất cứlý do nào để làm chúng ta nhẹ bớt gánh nặng của tội lỗi, nếu Ngài có thể làm. Quả thực, những người lính Roma không biết khá hơn. Việc huấn luyện đã làm cho họ trở nên nhẫn tâm và tàn bạo. Dĩ nhiên, những hành động của họ phải bị kết án: ai đó phải chịu trách nhiệm và đã phạm tội, nhưng những người này...“Họ không biết việc họ làm.” Vì thế, Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, .." Những lời này dịu ngọt biết bao đối với những người đang mang gánh nặng của tội lỗi.

Trong cuộc sống của mọi người, có những việc, những hành động và thái độ cần đến ơn tha thứ. Có những sự việc dại dột và yếu đuối, những điều này như bóng ma ám ảnh chúng ta khi tinh thần sa sút. Giá chúng ta có thể nghe trong tâm hồn rằng chúng ta được tha thứ. Những người lính Roma đã không xin tha thứ, nhưng Chúa Giêsu đã xin điều đó cho họ. Nếu bạn và tôi thực sự muốn được tha thứ, nếu nỗi buồn của chúng ta là có thật, điều gì ngăn cản chúng ta biết rằng mình đã được Chúa Giêsu tha thứ? Chẳng lẽ chúng ta không tin vào tình yêu của Ngài dành cho chúng ta? Chúa Giêsu yêu những người lính Roma, mặc dù họ chẳng biết Ngài. Chúa Giêsu không tha thứ cho họ, nếu Ngài không yêu thương họ. Nếu chúng ta quay về với Ngài, muốn yêu mến Ngài và xin tha thứ, chúng ta có thể chắc chắn rằng nỗi buồn về những việc làm sai trái mà chúng ta đã làm sẽ đưa chúng ta đến gần Chúa hơn, và tâm trí chúng ta sẽ tim lại được sự bình an.

Đây là khoảnh khắc ấm lòng của kinh nghiệm được tha thứ, để biết rằng tôi được yêu thương sau khi tôi đã làm điều sai trái. Tha thứ là phẩm tính đáng yêu của Thiên Chúa. Nó cũng là phẩm tính đáng yêu ở giữa chúng ta. Khi đau buồn vì tội lỗi hay quá hối hận, chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ sự tha thứ của Thiên Chúa. Đây là người bạn đồng hành của nỗi buồn của chúng ta. Bất kể điều gì người khác đã làm cho chúng ta, sự hãm hại, bất công do họ gây ra cho chúng ta, đừng bao giờ từ chối tha thứ cho họ, bởi vì “họ không biết việc họ làm."

Họ đóng đinh vào tay chân Chúa Giêsu để ghim Ngài vào thập giá. Ngài đau đớn vì bị đánh đòn, bị mũ gai đâm vào đầu. Ngài chịu sỉ nhục, lăng mạ, mắng nhiếc và bây giờ chịu đau đớn vì những mũi đinh xé nát tay chân Ngài. Nỗi đau đớn trong thân xác kèm theo nỗi đau trong tâm hồn. Nhưng Chúa đã tha thứ. Ngài tha thứ cho họ về những điều họ đã làm, về nỗi đau họ đang bắt Ngài phải chịu. Chúa tìm lời bào chữa cho họ: “Họ không biết việc họ làm." Phải chăng họ chỉ vâng phục mệnh lệnh, làm điều họ được người khác sai khiến, những người muốn giết vị ngôn sứ này?

Chúa Giêsu tha thứ, bỏ qua cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Như thế Chúa cầu nguyện, những lời của Ngài không xuất phát từ sự yếu đuối, nhưng từ sức mạnh của tình yêu mà Ngài dành cho chúng ta.

Có một sự thật sâu xa hơn ở đây mà chúng ta cần phải học biết. Đó là chính Thiên Chúa luôn luôn tìm mọi cách để tha thứ. Ngài tìm mọi lý do để tha thứ, để bào chữa cho chúng ta, để hiểu, để thông cảm với chúng ta. Tuy nhiên, Ngài tìm bên trong tâm hồn chúng ta để thấy sự buồn rầu, hay ít nhất sự bắt đầu của nó. Ngài chờ mong chúng ta nói lời xin lỗi, để nhận ra điều sai trái chúng ta đã làm. Có niềm an ủi khi nhớ rằng Thiên Chúa không chê bỏ tâm hồn thống hối và khiêm tốn.

Lạy Chúa, xin tha thứ cho con, vì con không biết việc con làm. Con không biết việc con đã làm. Nhưng lạy Chúa, có phải hoàn toàn như thế không? Có một tiếng nói lên tiếng khiển trách trong tâm hồn con.

Tiếng nói đó mời gọi con đáp trả, không phải lời phản kháng, không phải lời nguyền rủa, không phải tiếng kêu la, nhưng là một lời cầu nguyện, một lời cầu nguyện đâm thủng Trái Tim Chúa Giêsu để tình yêu như một dòng suối tuôn trào từ Trái tim Chúa, chỉ một câu: con xin lỗi Chúa.

Trích từ Mầu Nhiệm Thập Giá -

Share:

Wednesday, April 1, 2026

THỨ NĂM TUẦN THÁNH - Mỗi Thánh Lễ là Bữa Tiệc của Chúa

Một lần, tôi được vài người bạn Do Thái mời tham dự lễ Vượt Qua cùng họ. Trong gia đình Do Thái, đây là một dịp trọng đại, hạnh phúc vì cả nhà sum họp. Buổi lễ có lời cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, hát thánh ca và tiếng cười vui vẻ.  https://youtu.be/_DuTd0GlTmI

Tại sao người Do Thái cử hành lễ Vượt Qua? Bởi vì, như một tác giả Do Thái đã viết: “Đó là đêm mà mỗi người Do Thái xem mình như thể được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và bắt đầu hành trình đến Sinai, nơi Israel lãnh nhận Thập Giới.”                                                                                                            
Tối hôm đó, tôi rất vui. Tôi nghĩ đến việc Chúa Giêsu sai Phêrô và Gioan chuẩn bị bữa Vượt Qua, rồi cùng 12 môn đệ cử hành. Người nói: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 22, 15-16). 

Trong bữa ăn với bạn bè Do Thái, tôi đã dùng những món ăn mà Chúa Giêsu từng ăn trong Bữa Tiệc Ly: bánh không men, rau đắng để nhớ lại kiếp nô lệ Ai Cập, một quả trứng biểu tượng cho sự sống mới từ cái chết. Theo truyền thống, chúng tôi uống bốn chén rượu nho và hát những thánh vịnh mà Chúa Giêsu cũng đã hát. Tôi lắng nghe trẻ nhỏ hỏi cha mẹ: “Tại sao tối nay lại đặc biệt?” và nghe câu trả lời: “Đây là bổn phận của chúng ta kể lại câu chuyện kỳ diệu: ra khỏi Ai Cập, thoát ách nô lệ, vượt Biển Đỏ, và lang thang trong sa mạc.”

 Tôi tự hỏi: vào lúc nào Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra? Nhưng ở đây có sự khác biệt: Người nói “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” Và khi nâng chén rượu cuối bữa, Người cũng nói: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22, 19-20). 

Hành động của Chúa Giêsu với bánh và rượu đã thay đổi tất cả. Từ nay, biến cố trọng đại chúng ta cử hành không chỉ là cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập, mà là cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu – cuộc giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Mỗi Thánh Lễ là một cuộc tham dự vào chính biến cố ấy, với tâm tình tạ ơn và yêu mến. Một người phụ nữ Do Thái trong buổi lễ hôm đó từng bị giam trong trại tập trung Belsen. Nhìn bà, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu trong cơn hấp hối: sợ hãi, cô đơn, đau khổ đến toát mồ hôi máu. Bà đã chịu đựng những khổ đau ấy nhiều năm, và nay được sống tự do, hưởng tình yêu gia đình và bạn bè. 

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta tưởng nhớ việc Chúa Giêsu cầm bánh và rượu, biến đổi thành Mình và Máu Ngài. Sự thật này đòi hỏi chúng ta phải khiêm tốn, vì đó là quà tặng vô giá. Chính vì thế, chúng ta quỳ gối tôn thờ Chúa trong phép Thánh Thể, ý thức rằng mình đang ở gần Ngài trong nỗi đau ở vườn Cây Dầu, và gần Ngài như Maria Mađalêna trong ngày Phục Sinh. Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là lúc chúng ta làm mới lại đức tin, nhận ra rằng mỗi Thánh Lễ là sự kết hợp của Thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Hiến tế và bàn tiệc Thánh Thể chính là trung tâm đời sống Giáo Hội. Chúa Giêsu còn rửa chân cho các môn đệ, biểu lộ sự nhã nhặn và yêu thương của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa đã tỏ ra sự khiêm nhường ấy, thì chúng ta cũng được mời gọi đáp lại bằng lòng yêu mến và phục vụ, đặc biệt với những người nghèo khổ. 

Cuối cùng, nghi thức Thứ Năm Tuần Thánh có cuộc rước Thánh Thể đến bàn thờ phụ, nơi mỗi người có thể cầu nguyện riêng trong thinh lặng. Đây là sự nối kết quan trọng: chúng ta không thể thờ phượng cách sâu xa nếu không biết cầu nguyện riêng, và không thể yêu thương tha nhân thật sự nếu không có mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu. 

Cầu nguyện trong thinh lặng không dễ, như Phêrô, Giacôbê và Gioan đã từng ngủ quên. Nhưng khi nhớ đến cơn hấp hối của Chúa, chúng ta hiểu rằng Ngài cần sự hiện diện của chúng ta. Ở lại với Chúa trong giây phút thinh lặng, nhu cầu của Ngài gặp nhu cầu của chúng ta, và ước muốn của Ngài trở thành ước muốn của chúng ta. Trong sự thinh lặng ấy, chúng ta cảm nhận sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống mình và ý nghĩa sâu xa của điều đó

---Trích từ Mầu Nhiệm Thập Giá - Basil Hume---- 



Share:

BTemplates.com